📖 CHƯƠNG 2
Tôi đứng ở cửa ngó vào trong. Trên sân tập có mấy chục người đang huấn luyện, nhóm thì chạy bộ, nhóm thì tập điều lệnh đội ngũ. Bên cạnh sân dựng một cái lán, có mấy người mặc quân phục đang ngồi, trước mặt kê một chiếc bàn, trên bàn đặt một xấp biểu mẫu.
Đó chính là bàn đăng ký tuyển quân.
Tôi bước tới, đứng lặng trước bàn.
Vị cán bộ ngồi đó ngẩng đầu nhìn tôi một cái, rồi cúi xuống cầm bút viết mấy chữ lên giấy. Viết xong, anh ta lại ngẩng lên, nhìn tôi thêm cái nữa.
"Đồng chí, cô tìm ai?"
Tôi đáp: "Tôi đến đăng ký tòng quân."
Anh ta sững người, nhìn tôi chằm chằm từ đầu đến chân. Tôi đang mặc bộ áo cánh màu xám đã giặt đến bạc phếch, sờn cả mép tay áo. Dưới chân là đôi giày vải có phần đế vẫn còn dính bùn. Tóc tai buộc qua quýt, mặt mũi thì cháy nắng đỏ lựng.
Anh ta hỏi: "Bao nhiêu tuổi rồi?"
"Hai mươi."
"Trình độ văn hóa đến đâu?"
"Học được hai năm lớp xóa mù chữ, biết viết chút ít."
Anh ta đặt bút xuống, lắc đầu: "Đồng chí à, năm nay tuyển lính yêu cầu có văn hóa, tốt nhất là tốt nghiệp cấp hai thì sẽ được ưu tiên. Cô thế này..."
Anh ta chưa nói hết câu, nhưng tôi thừa hiểu ý.
Một cậu lính trẻ bên cạnh ghé sát lại, nhỏ giọng: "Đại đội trưởng, cô này có phải đi nhầm chỗ rồi không?"
Người được gọi là đại đội trưởng lườm cậu ta một cái, rồi lại quay sang nhìn tôi, bảo: "Đồng chí, cô về đi. Sang năm lại đến, biết đâu sang năm chính sách lại nới lỏng hơn."
Tôi vẫn đứng trơ ra, không nhúc nhích.
Anh ta cau mày, đang định nói thêm gì đó thì đột nhiên phía xa vang lên một tiếng "chát".
Mấy người chúng tôi đều ngoảnh đầu nhìn sang.
Ở bên kia sân tập, mấy người lính đang tập bắn. Đó không phải súng thật, mà là loại súng gỗ dùng để huấn luyện. Bia ngắm được dựng cách đó chừng hơn năm mươi mét, làm bằng một tấm ván gỗ có vẽ các vòng tròn.
Có một người lính bắn trượt, viên đạn bay đi đâu mất tăm.
Đại đội trưởng chửi thề một tiếng, đứng dậy định bước tới đó.
Đúng lúc này, tôi nhìn thấy một con chim sẻ bay lên từ cái cây bên rìa sân tập, cánh đập phành phạch, bay là là không cao lắm.
Trong đầu tôi chợt nảy ra một ý.
Lúc cha tôi còn sống, ông từng làm lính, lại còn là tay thợ săn cừ khôi nhất làng. Ông từng dạy tôi bắn súng cao su.
Ông thường bảo: "Tú Anh à, tinh mắt là lộc trời cho, cha còn xách dép cho con."
Sau này ông mất, thỉnh thoảng nhớ cha, tôi lại xách súng cao su ra ngoài bắn mấy con chim sẻ mang về nấu canh.
Tôi đảo mắt nhìn quanh mặt đất, thấy ngay một hòn đá nhỏ tròn xoe nằm ở dưới chân, kích cỡ vừa khéo.
Tôi cúi xuống nhặt lên, rồi thò tay vào túi quần móc khẩu súng cao su của mình ra.
Khẩu súng này là di vật cha để lại cho tôi, phần tay cầm bằng gỗ đã mòn đến nhẵn bóng, dây thun cũng phải thay mấy bận rồi, tôi luôn mang theo nó bên người.
Đại đội trưởng vừa định bước ra sân tập thì khựng lại.
Anh ta thấy tôi lôi súng cao su ra, thấy tôi nheo mắt lại, rồi giơ tay lên.
Con chim sẻ kia đã bay xa được sáu, bảy chục mét, sắp bay đến tận đầu kia của sân tập.
Tôi kéo căng dây thun, ngắm nghía chốc lát rồi buông tay, "vút" một tiếng, hòn đá bay vụt đi.
Con chim sẻ cắm đầu rơi chúi xuống, rớt ngay giữa sân tập.
Mấy người lính trên sân giật nảy mình, vội xúm lại xem.
Tôi bước tới nhặt con chim sẻ lên, quay lại chỗ chiếc bàn, đặt phịch nó xuống.
Đại đội trưởng cúi nhìn con chim sẻ, rồi lại ngẩng lên nhìn tôi.
Trên đầu con chim có một cái lỗ thủng nhỏ, máu tươi đang rỉ ra. Trúng ngay chóc chỉ bằng một hòn đá.
Anh ta hỏi: "Cô biết bắn súng cao su à?"
Tôi đáp: "Vâng."
Anh ta không nói gì nữa, cứ nhìn chằm chằm con chim sẻ hồi lâu.
Cậu lính trẻ bên cạnh thì há hốc mồm, nghẹn một lúc lâu mới thốt lên được: "Đại đội trưởng, thế này... thế này còn chuẩn hơn cả súng của tụi mình ấy chứ."
Đại đội trưởng lườm cậu lính một cái, rồi lại nhìn tôi: "Cô tên gì?"
"Tôn Tú Anh."
"Người ở đâu?"
"Làng Thanh Thạch Oa."
Anh ta gật đầu, ngồi xuống, rút một tờ biểu mẫu trên bàn ra.
"Tại sao lại muốn đi lính?"
Tôi đáp: "Bảo vệ Tổ quốc."
Anh ta ngước mắt nhìn tôi, ánh mắt có chút kỳ lạ. Cậu lính trẻ bên cạnh thì bụm miệng cười trộm.
Tôi biết họ đang cười cái gì. Một con nhóc nhà quê bần hàn, mở miệng ra là bảo vệ Tổ quốc, nghe cũng lạ đời thật.
Nhưng tôi không hề nói dối.
Cha tôi từng là lính, ông từng lập công, sau đó vì bị thương nên mới phục viên về quê làm ruộng. Ông thường bảo tôi, người đi lính thì phải có lòng bảo vệ Tổ quốc. Sau khi ông mất, câu nói này tôi vẫn luôn ghi tạc ở trong lòng.
Đại đội trưởng nhìn tôi một chốc, lại nhìn xuống con chim sẻ.
Anh ta đẩy tờ biểu mẫu tới trước mặt tôi: "Điền vào đi. Có ba tháng huấn luyện ở đại đội tân binh, trụ được thì ở lại, không trụ được thì từ đâu về đó."
Tôi chẳng biết được mấy chữ, anh ta bèn bảo cậu lính trẻ chỉ cho tôi điền từng nét một.
Đến mục "Sở trường", tôi nghĩ ngợi mãi mà chẳng biết nên viết cái gì.
Đại đội trưởng bảo: "Cứ viết là: Thiên phú bắn súng xuất chúng, trong vòng một trăm mét, dùng súng cao su bắn trúng chim sẻ."
Cậu lính trẻ cười hì hì rồi điền luôn vào giúp tôi.
Lúc tôi chuẩn bị rời đi, đại đội trưởng gọi giật tôi lại.
"Tôn Tú Anh," anh ta nói, "quân đội không phải trạm thu dung, cũng không nuôi kẻ ăn không ngồi rồi. Cô vào đó rồi thì phải dựa vào bản lĩnh thật sự. Tài bắn súng cao su kia là giấy thông hành cho cô bước qua cánh cửa này. Vào rồi bước tiếp thế nào, phải dựa vào chính bản thân cô."
Tôi đáp: "Tôi biết rồi."
Anh ta gật đầu, phẩy tay ra hiệu cho tôi đi.
Bước ra khỏi Ban Chỉ huy Quân sự thì trời đã nhá nhem tối.
Tôi chôn xác con chim sẻ dưới gốc một cây cổ thụ, dập đầu lạy nó một cái, rồi ngước nhìn lên bầu trời lẩm bẩm:
"Cha ơi, con gái cha được làm lính rồi."
Đại đội tân binh đóng quân ở vùng ngoại ô trên tỉnh, tôi phải ngồi xe tải ròng rã suốt bốn tiếng đồng hồ mới tới nơi.
Lúc đến nơi thì trời đã tối mịt, trên sân tập đèn pha bật sáng rực. Một hàng nữ binh đang đứng tập trung ở đó, ai nấy đều mặc quân phục giống nhau, thắt lưng giống nhau, đến mái tóc cũng tết bím cuộn giấu gọn trong mũ giống hệt nhau.
Lúc tôi bước xuống xe, tất cả đều ngoái đầu lại nhìn.
Tôi vẫn mặc bộ áo xám của mình, khoác cái tay nải chéo vai, đứng lọt thỏm giữa một màu quân phục xanh rì, trông chẳng khác nào một cọng cỏ dại.
Tiểu đội trưởng dẫn đội là một nữ quân nhân trạc tuổi đôi mươi, khuôn mặt tròn trịa, trông rất hiền lành. Chị ấy dẫn tôi về phòng ngủ, chỉ vào một chiếc giường tầng: "Em ngủ giường dưới nhé, giường trên là của Vương Mai, cô ấy vừa ra ngoài lấy nước rồi."
Tôi đặt tay nải xuống, ngồi ghé bên mép giường.
Dát giường cứng ngắc, bên trên trải một lớp đệm mỏng dính, chiếc chăn quân dụng màu xanh được gấp vuông vắn góc cạnh đặt ngay ngắn ở đầu giường. Trên tường có dán một tờ giấy ghi thời gian biểu sinh hoạt. Năm giờ thức dậy, năm rưỡi tập thể dục sáng, sáu giờ bốn mươi ăn sáng...
Tôi đang mải nhìn thì cánh cửa chợt mở.
Một cô gái trạc tuổi tôi bước vào, tay bưng chậu nước nóng, vừa thấy tôi liền toét miệng cười: "Người mới hả? Mình là Vương Mai, còn cậu?"
"Tú Anh."
"Cậu ở đâu tới vậy?"
"Làng Thanh Thạch Oa."
Cô ấy đặt chậu nước xuống, sán lại gần tôi rồi hạ giọng hỏi nhỏ: "Mình nghe đại đội trưởng gọi điện thoại bảo cậu bắn súng cao su chuẩn lắm hả? Bảy tám chục mét mà bắn trúng được cả chim sẻ, một hòn đá hạ một con luôn, có đúng không?"
