📖 CHƯƠNG 1
Khi tôi gả cho Cố Trường Sơn, anh ta vừa mới nhập ngũ.
Bố mất, mẹ tái giá, để lại anh ta trơ trọi một mình.
Tôi và anh ta mới gặp nhau được vài lần, nhưng giữa hai nhà lại có hôn ước từ nhỏ.
Năm chúng tôi kết hôn, bái đường xong xuôi là anh ta khoác ba lô lên đường luôn, tôi còn chưa kịp nhìn kỹ mặt mũi chồng mình ngang dọc thế nào.
Về sau, bà nội anh ta bị ngã gãy lưng, tôi thay anh ta phụng dưỡng bà.
Từ đổ bô dọn phân đến lau người bón cơm, chớp mắt tôi đã hầu hạ ròng rã hai năm trời.
Sang năm thứ ba thì bà mất. Tôi thay anh ta mặc áo xô, đội mũ mấn, quỳ lạy đủ ba ngày ba đêm.
Ngày tin anh ta được đề bạt làm cán bộ báo về làng, tôi đang đốt vàng mã cúng tuần đầu cho bà.
Người trong làng ai cũng bảo: "Tú Anh à, chồng mày làm nên cơ đồ rồi, mày sắp được hưởng phúc tới nơi."
Tôi cũng tưởng đời mình sắp được hưởng phúc thật.
Cho đến khi tin anh ta được phân nhà truyền tới, đi kèm trong thư lại là một tờ đơn ly hôn.
Trong thư chỉ viết vỏn vẹn một câu:
"Tú Anh, tổ chức có giới thiệu đối tượng cho tôi, là một cô phát thanh viên, có học thức, nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Chuyện của hai chúng ta, coi như bỏ đi."
Đêm hôm đó, tôi không khóc.
Tôi lôi những bức thư đã gom góp suốt ba năm qua, tấm ảnh chụp huân chương cùng chiếc chăn lính mà anh ta nhờ người mang về, xếp lại ngay ngắn từng thứ một.
Sáng sớm hôm sau, tôi lên huyện.
Không phải đi tìm anh ta.
Mà đi đăng ký tòng quân.
Cầm tờ giấy trên tay, tôi đứng thẫn thờ ngoài sân mất một lúc lâu.
Gió tháng Mười đã bắt đầu se lạnh, thổi vạt giấy bay lật phật. Tôi chẳng biết được mấy chữ, nhưng hai chữ "ly hôn" thì tôi rành lắm. Năm ngoái, con gái ông Vương thọt ở đầu làng ly hôn, tờ đơn đó cũng chính tay tôi đưa giúp.
Thư gửi từ quân đội về, dán một con tem mới tinh, trên dấu bưu điện in dòng chữ của trên tỉnh. Trong phong bì chỉ có đúng hai tờ giấy: một tờ là thỏa thuận ly hôn, tờ còn lại là bức thư anh ta viết.
Thư cũng chỉ có đúng một câu như thế, tôi lật đi lật lại xem chừng tới năm bận.
"Tú Anh, tổ chức có giới thiệu đối tượng cho tôi, là một cô phát thanh viên, có học thức, nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Chuyện của hai chúng ta, coi như bỏ đi."
Chuyện của chúng ta.
Chúng ta thì có chuyện gì cơ chứ?
Tôi nhớ lại hai năm trước, người bà nội nuôi nấng anh ta từ nhỏ bị ngã gãy lưng. Họ hàng nhà anh ta chẳng ai dám dây vào, cũng chẳng một ai thèm đến ngó ngàng chăm sóc.
Bà gửi thư cho anh ta, anh ta lại bảo không về được, ngoảnh đi ngoảnh lại liền gửi ngay một bức thư cho tôi, hỏi tôi có thể giúp một tay được không.
Hồi đó, tuy mang tiếng là vợ trên danh nghĩa nhưng tôi chưa gặp anh ta được mấy lần, đến mặt mũi anh ta trông ra sao cũng sắp quên béng mất rồi, ấy thế mà tôi vẫn xách hành lý dọn đến.
Bà cụ nằm liệt, ăn uống tiêu tiểu đều ở trên giường. Ngày đầu tiên tôi đến, vừa lật chăn lên, thứ mùi hôi hám xộc thẳng vào mũi suýt nữa làm tôi buồn nôn ngã ngửa. Bà cụ ngại ngùng, cứ lấy tay che mặt rồi mếu máo: "Cháu gái ơi, cháu về đi, đừng lo cho cái thân già sắp chết này nữa."
Tôi không về.
Tôi đi múc nước, lau người cho bà, thay nệm gối, rồi ôm đống chăn đệm bẩn ra bờ sông giặt. Nước sông tháng Chạp lạnh cóng đến buốt cả xương, tôi cắn răng vò cho bằng sạch mấy mảnh vải dính đầy phân với nước tiểu ấy.
Cứ thế tận tâm chăm bẵm, ngoảnh đi ngoảnh lại đã hai năm trôi qua.
Trong hai năm đó, lưng bà không thấy khá lên, nhưng người ngợm thì mập mạp ra phết. Mỗi ngày tôi đều lật người, lau rửa, bón cơm, đút thuốc cho bà; đêm hôm cũng phải lịch kịch tỉnh dậy hai ba bận để đỡ bà đi vệ sinh.
Bà nắm lấy tay tôi khóc ròng: "Tú Anh à, nhà họ Cố nợ cháu, kiếp sau có làm trâu làm ngựa cũng phải đền bù cho cháu."
Tôi bảo chẳng cần kiếp sau đâu, cứ để Trường Sơn làm việc thật tốt trong bộ đội, sau này đón cháu ra ngoài mở mang tầm mắt một chuyến là cháu đã mãn nguyện lắm rồi.
Ngày ấy, tháng nào anh ta cũng gửi thư về. Trong thư kể chuyện huấn luyện cực khổ nhường nào, kể anh ta nhớ nhà ra sao, kể anh ta chắt bóp được bao nhiêu tiền phụ cấp, lại còn bảo sau này sẽ mua cho tôi một chiếc đồng hồ thật xịn.
Cuối thư, bao giờ anh ta cũng chốt lại một câu: "Tú Anh, đợi anh công thành danh toại, việc đầu tiên là sẽ đón em lên thành phố."
Tôi cất kỹ những lá thư ấy trong một chiếc hộp sắt, giấu dưới gối, lúc nào nhớ anh ta lại lôi ra đọc.
Về sau, bà nội vẫn không qua khỏi.
Trước lúc nhắm mắt xuôi tay, bà nắm chặt tay tôi, bảo muốn nhìn mặt cháu trai một lần cuối. Tôi nhờ người đánh điện tín lên đơn vị, ba ngày sau nhận được bức điện trả lời: Quân đội có nhiệm vụ, không về được.
Một mình tôi mặc áo thọ cho bà, một mình túc trực bên linh cữu, một mình quỳ lạy chịu tang.
Ngày đưa tang, tôi quấn khăn xô, ôm bài vị, quỳ lạy từ đầu làng đến cuối làng. Đầu gối rách tươm, máu dính chặt ống quần vào da thịt, tối đến cởi mãi mà không ra.
Người trong làng nhìn thấy, ai nấy đều xuýt xoa: Thằng ranh Cố Trường Sơn đúng là cưới được cô vợ vàng mười.
Tôi cũng từng nghĩ, chắc hẳn anh ta sẽ ghi lòng tạc dạ ân tình này của tôi.
Thế nhưng hiện tại, nhìn bức thư trên tay, tôi chợt nhận ra mình cũng chẳng còn nhớ nổi mặt mũi anh ta trông ra làm sao nữa...
Tôi gấp gọn lá thư, nhét lại vào phong bì.
Trong nhà vẫn còn đặt bài vị của bà. Tôi quỳ xuống đệm cói, dập đầu ba cái trước linh vị.
"Bà nội ơi, Trường Sơn không cần cháu nữa rồi."
Bài vị vô tri không biết nói.
Tôi lại dập đầu thêm ba cái: "Cơm nước mấy năm nay, cháu cũng không ăn không của nhà họ Cố. Từ nay về sau, cháu không hầu hạ nữa đâu."
Tối đến, tôi lôi chiếc hộp sắt kia ra.
Mười bảy bức thư được tôi trải từng bức một lên giường sưởi. Giấy viết thư đã ố vàng, mép giấy sờn cả lên, đó là dấu vết của những lần tôi lật ra đọc đi đọc lại.
Tôi tìm bao diêm, quẹt một que, rồi đưa lá thư lại gần.
Khi ngọn lửa bùng lên, tôi thoáng thấy dòng chữ đầu tiên: "Tú Anh, thấy thư như thấy người..."
Lưỡi lửa liếm qua, con chữ hóa thành tro bụi.
Cứ thế đốt từng lá một, đốt cho đến bức thư cuối cùng, là bức thư anh ta gửi kèm tấm ảnh chụp huân chương. Trong ảnh, anh ta mặc bộ quân phục bốn túi, trước ngực cài huy chương, trông ra dáng con người lắm.
Tôi ném luôn cả tấm ảnh vào đống lửa.
Người trong ảnh nhìn tôi, mỉm cười giữa biển lửa.
Lửa tàn, trên tường in lại cái bóng của tôi. Đen đúa, gầy gò, lưng còng hẳn đi, mái tóc buộc túm lộn xộn.
Tôi năm nay mới hai mươi tuổi đầu.
Nhưng người trong gương kia, trông có khác nào bà cụ Triệu sáu mươi tuổi ở phía đông làng đâu.
Sáng sớm hôm sau, tôi dậy quét tước sân vườn, cho gà ăn, rồi gánh nước đổ đầy chum.
Sau đó, tôi thay một bộ quần áo sạch sẽ, nhét tờ thỏa thuận ly hôn vào túi áo, khóa kín cửa lại rồi lên đường ra huyện.
Ra đến đầu làng thì đụng mặt thím Lưu. Thím ấy đang xách làn đi chợ, thấy tôi liền í ới: "Tú Anh, đi đâu đấy? Chồng mày mới gửi thư về phải không? Thế bao giờ nó đón mày lên phố?"
Tôi đáp: "Anh ấy không đón cháu nữa ạ."
Tôi mỉm cười với thím: "Cháu lên huyện có chút việc. Sau này cháu không về nữa đâu."
Thím Lưu ngớ người ra, chiếc làn trên tay suýt nữa thì rơi tuột xuống đất.
"Không về nữa á? Thế mày đi đâu? Trước giờ mày đã ra khỏi làng một mình bao giờ đâu, sao tự dưng nay lại đòi lên huyện?"
"Không sao đâu thím, một mình cháu cũng lo liệu được!"
Sân của Ban Chỉ huy Quân sự huyện không lớn lắm, gồm hai dãy nhà ngói, nằm kẹp ở giữa là một bãi sân tập.
